Thứ Sáu, 23 tháng 1, 2015

Hướng dẫn ăn thực dưỡng cho bệnh tim mạch :

Khi áp dụng đúng đắn, phương pháp thực dưỡng dưỡng sinh có thể sửa chữa tình trạng quá âm hay dương trở về thế quân bình tự nhiên. Bảng 24 phân loại tổng quát các loại bệnh tim đã bàn đến ơ chương II và sắp xếp dưới ba đầu tựa khác nhau:tình trạng quá âm, tình trạng quá dương hoặc cả hai.

Trong bảng này danh từ đều đặn có nghĩa là dùng hàng ngày, thỉnh thoảng có nghĩa là chấp nhận được mỗi tuần dùng từ hai cho đến ba lần và từ tránh dùng, giới hạn hay hạn chế có nghĩa là không nên dùng hoặc rất ít. Để thêm vào bảng hướng dẫn tổng quát nói trên, trong mỗi trường hợp đặc biệt có thể chuẩn bị những món ăn riêng, công thức những món này được trình bày cũng trong phần III.

Cho tất cả các loại bệnh tim mạch, những thực phẩm lệch quân bình trong các thực đơn thời nay cần phải được giảm hẳn. Trong đó có thịt, gia cầm, trứng, sữa, phó mát, yaourt, và các chế phẩm từ sữa, muối tinh chế, đường, mật ong, và các chất ngọt khác, nước uống ngọt, trà đen và các thức uống pha mùi thơm; dầu tinh luyện làm từ động vật hay thực vật, mayonnaise, margarin (bao gồm cả làm từ các loại đậu) và các thức trang trí nhân tạo, tất cả mọi loại thức ăn có mỡ và dầu, các loại gia vị, sâm, bột lọc tinh chế, gạo trắng, ngũ cốc đánh bóng, tất cả những thực phẩm có chứa hóa chất, chất bảo quản, tất cả thực phẩm có nguồn gốc từ xứ nhiệt đới, trong đó có cà chua, khoai tây, cà tím (ngoài trừ bạn đang sống trong vùng nhiệt đới), tất cả các loại kẹo, thức ăn ướp lạnh, thức ăn tinh lọc, thức ăn nhuộm màu và thức ăn có chiếu bức xạ cùng tất cả vitamin trợ lực.

Cho đến khi sức khỏe đã phục hồi (thông thường sau một hay hai tháng tùy từng cá nhân) thực đơn có thể nới rộng như đã nêu trong phần I, trong đó gồm có cá và hải sản, xà lách tươi sống, trái cây, nước trái cây, các thức tráng miệng có vị ngọt thiên nhiên. Việc nới rộng này phải biến cải cho cân bằng theo từng cá nhân và cho từng giai đoạn tiến triển của sức khỏe, và tùy theo từng thời kỳ một.



BẢNG   24
Ăn thực dưỡng chữa bệnh tim mạch

Loại thực phẩm
Tình trạng âm
Tình trạng âm ln dương
Tình trạng dương
Cách nấu nướng tng quát
i mặn, nu lâu
Nấu với thi gian va phải
ít muối, nu sơ
Ngũ cốc(50 đến 60% trong lượng ba ăn
Thường dùng  : Gạo lt, Đại mch, bp ngô, lúa mì lt, kê, kiều mch,
Thường dùng  : Gạo lt, đại mch, Lúa mì lt, bp ngô.
Thường dùng  : Gạo lt, đại mch, bp ngô, luá mì lứt.

Dùng thỉnh thong: yến mch, nui, bánh bt nướng .
Dùng thỉnh thong: Kê, kiều mch, yến mch., nui, mì si.
Dùng thỉnh thong: yến mch, lúamch đen (rye), nui .


Dùng thật ít : bánh mì, bánh nướng
Dùng thật ít : kê, kiều mch, bánh mì, bánh bt nướng
Xúp (một đến hai chén mi ngày)
Nêm hơi mn (miso, tamari. mui bin )
Nêm vừa (miso, tamari, muibin)
Nêm nhạt (miso, tamari,mui bin )
Rau củ (25 đến 30 % trong t l mi ba ăn)
Tất cả nhng loi rau c nhưng chn nhiu phn r và ít s dng nhng loi rau có lá to, xanh, tránh xà lách tươi     
Tất cả nhng loi rau c, chn loi c tròn. Dùng ít xà lách sng, thường dùng xà lách nấu, hp.
Tất cả loi rau c, nhưng chn nhiu loi rau có lá xanh, lá tròn, ít dùng r, chút ít xà lách tươi sng, thường dùng xà lách hp.
Đậu và chế phm dùng t đậu (5%)
Nêm hơi mn, không dùng thường xuyên.
Nêm vừa, dùng ít.
Nêm nhạt, thường xuyên.
Rong biển (5% t l trong ba ăn)
Nấu với thi gian lâu, nêm hơi mn.
Nấu với thi gian va, nêm va.
Nấu nhanh, nêm nhạt.
a dầm mui (dùng vi s lượng ít)
Muối với thi gian lâu, mn.
Muối với thi gian trung bình.
Muối nhanh, ăn nht.
Gia vị (dùng chút ít)
Dùng gia vị nng mùi.
Dùng vị vừa
Dùng vị nh
Thực phẩm động vật
Thỉnh thoảng dùng đôi chút cá tht trng hoc hi sản
Thật ít cá và hải sản
Tránh hẳn cá và hi sản
Dầu
Thỉnh thoảng dùng du mè (du vng) không tinh chế,  thật ít, không dùng du sng.
Thỉnh thoảng dùng du mè (du vng) không tinh chế,  thật ít, không dùng du sng.
Thường dùng, dầu không tinh chế, du bp, dùng va, không dùng du sống.
Trái cây tráng miệng
Tránh dùng, dùng thật nho khô hoc trái cây nu nếu còn thèm
Dùng thật ít trái cây khô hoc nu (ti địa phương) nếu còn thèm.
Thỉnh thoảng trái cây khô, nu; thc tráng ming ngt thiên nhiên.
Loại quả hch
Thỉnh thoảng loi qu hch rang sơ, hn chế loi qu bơ
Thỉnh thoảng loi qu hch rang sơ,
loại quả bơ
Thỉnh thoảng vài qu hch rang sơ,
loại quả bơ
Thức uống
Trà bancha, trà cổ truyn, đậm
Trà bancha, trà cổ truyn, vừa
Trà bancha, trà cổ truyn, nhạt
NHỮNG TRƯỜNG HỢP BỆNH TIM NGUY KỊCH

Tim hoạt động quá tải (Tình trạng quá dương):

Những bệnh nhân này thường mắc luôn cả chứng huyết áp cao và viêm khớp, bị các chất mỡ nhầy đọng ở các động mạch vành, mạch máu và xung quanh cơ tim. Nhóm bệnh này dễ trở nên nặng, có thể gây đột quỵ và chết bất cứ lúc nào. Trong lịch sử đã được ghi gồm cái chết của Tổng thống Taft, Winston Churchill và Leonid Brezhnev.

Thông thường nhóm người bệnh loại này thường có thân hình thấp, béo và có mô xương to dày. Họ có bàn tay to lớn, vẻ mặt chắc, ngoài ra tai của họ to và có rái tai tách khỏi má, tay và lưỡi hình hơi vuông, lông tóc nhiều, làn da đỏ hoặc hồng sáng. Trong xã hội, họ thường là những người hiện thực, nói năng lưu loát, và thỉnh thoảng hơi lổ mãng. Giọng nói của họ thường lớn, có uy lực. Họ thường bày tỏ xúc động ra bên ngoài, có khi bột phát dữ dội, nhưng lại là những người rộng lượng ngay thẳng và không để bụng hận thù. Những người này thường khoe khoang và làm việc không ngưng nghỉ và lại luôn tin rằng họ có thể ăn bất cứ thức ăn gì mà không hề bị hại. Họ có một năng lực bẩm sinh, luôn kiên trì và bất chấp mọi trở ngại. Thể chất thép của họ là nhờ thụ hưởng của ông cha, bà mẹ và tổ tiên trước đây là những người chỉ dùng những thực phẩm ngũ cốc lứt và rau củ. Tuy nhiên nếu họ cứ mãi đi lạc đường với cách ăn uống sai lệch và cách sống nhầm lẫn thì sẽ quá muộn, họ sẽ dễ mắc phải các chứng bệnh như ruộât thừa, trĩ, sạn thận, cứng hóa các mạch máu và gan, đau bụng kinh hoặc tuyến tiền liệt, ung thư cột sống và cứng cơ lưng.

Thêm vào đó, với sự tiêu thụ thường xuyên đường, các chế phẩm từ sữa, rượu và quá nhiều dầu mỡ và cholesterol, nhất là từ các loại thịt bò, heo và thức ăn nhiều muối họ sẽ không tránh khỏi bệnh tim quá tải này. Thận dần suy yếu, được nhìn thấy qua các túi dưới mắt tích tụ đầy mỡ, chất nhầy và nước. Các đường ngang trên trán cho thấy sự suy yếu của ruột non và đường dọc giữa hai chân mày chứng tỏ gan nhiễm bệnh. Phương pháp thực dưỡng sẽ làm giảm nhẹ tình trạng bệnh ngay trong vài tháng đầu áp dụng với bữa ăn gồm 50 đến 60% ngũ cốc lứt, đặc biệt là gạo lứt, đại mạch và bắp lứt (tránh dùng kiều mạch), dùng từ 5 đến 10% súp miso nêm nhạt hoặc nước xốt nêm tamari, nấu với rau củ, đậu và đừng quên thêm rong biển. 25 đến 30 % rau củ đúng mùa đặc biệt các loại rau có lá xanh, có thể nấu theo nhiều kiểu và thỉnh thoảng dùng salad (xà lách, rau sống) và 5 đến 10% đậu cùng các sản phẩm của đậu như đậu hũ, tương đậu nành lên men và rong biển. Việc tiêu thụ cá và hải sản phải được hạn chế tối đa cho đến khi tình trạng bệnh được cải thiện, cũng vậy đối với các thực phẩm động vật khác, rượu, đường, bột tinh chế và nhất là thuốc lá phải ngưng hẳn. Có thể thỉnh thoảng dùng các thức tráng miệng ngọt, vài trái cây trong vùng được nấu lên hay phơi khô và thỉnh thoảng vài trái cây tươi 2 lần mỗi tuần. Về thức uống nên dùng những loại cây lá cổ truyền, không bỏ hương liệu hóa chất, như trà già bancha, đại mạch hoặc ngũ cốc lứt rang nấu lấy nước. Mỗi tuần ăn vài lần dưa cải dầm muối. Ngoại khoa đắp thêm gạc gừng lên vùng thận để máu lưu thông tốt và giúp tống khứ các chất mỡ và cholesterol dư thừa ra khỏi cơ thể. Không khí trong lành giúp khỏe phổi và cải thiện nguồn oxy. Thêm vào đó việc du lịch trên núi cao và trong rừng rất có lợi cho bệnh tim quá tải này. Nên tránh nơi không khí nóng, sa mạc, lò rèn cho đến khi bệnh đã được ổn định.


 Tim hoạt động quá yếu (Tình trạng quá âm):

Nhóm bệnh tim loại hai có khuynh hướng thiên về áp huyết thấp (thường kéo theo sau thời kỳ áp huyết cao) và tim suy yếu toàn bộ và bị sung huyết. Bệnh nhân loại bệnh này cũng có thể bị đột quỵ nhưng khả năng sống sót nhiều hơn là loại bệnh nhóm thứ nhất. Phổi cũng bị nhiễm nên hơi thở rất khó khăn, đau đớn, tình trạng theo sau đó là thiếu máu, bệnh bạch hầu hoặc tinh thần suy nhược, có thể dẫn đến sưng phổi và ung thư vú. Ví dụ như căn bệnh của Woodrow Wilson và Jean Paul Sartre trong quá khứ.

Người bệnh loại này thường gầy ốm, nhút nhát, thích yên tĩnh, luôn mệt mỏi và thường thu mình trong vỏ ốc. Ngoại hình gầy, tay và ngón tay dài, cấu trúc xương yếu, lông tóc ít. Khuôn mặt của họ thường dài, mũi dài, lưỡi và bàn tay hình hơi tròn, lỗ tai nhỏ với trái tay sát gò má, làn da tái nhợt, trắng, tím, sưng phồng và đầy nước. Giọng nói của họ yếu, thấp pha một chút tâm trạng buồn rầu và thất vọng. Những người này thường hướng về duy tâm, suy ngẫm tâm linh.

Bệnh tim hoạt động quá yếu do thường tiêu thụ quá mức những loại thực phẩm như đường, đồ ngọt, nước uống ngọt, các thức vùng nhiệt đới, nước trái cây, trái cây, sữa, sữa chua, kem đá, rau sống, rượu, cà phê, dược phẩm và các loại thuốc viên, vitamin, và những loại thuốc làm êm dịu, và tất nhiên kèm theo một ít thức ăn động vật. Để làm giảm tình trạng này, việc ăn thực dưỡng phải gồm trong giai đoạn nhiều tháng đầu áp dụng phải có tỷ lệ 50 đến 60 % ngũ cốc lứt , đặc biệt là gạo lứt, đại mạch, kiều mạch, bắp rang, 5 đến 10 % nước xốt, súp có nêm hơi mặn miso và tamari, 25 đến 30 % rau củ đúng mùa, với cả rễ như càrốt, củ cải daikon, củ cải trắng và các loại rau xanh có lá cứng như cải xoăn(kale) và rau collards, từ 5 đến 10 % đậu, các chế phẩm của đậu và rong biển. Mỗi tuần có thể dùng 2 đến 3 lần cá, tuy nhiên rau xà lách sống, trái cây tươi và những loại thức tráng miệng ngọt có nguồn gốc thiên nhiên cũng phải hạn chế cho đến khi bệnh đã được cải thiện. Nếu còn thèm đồ ngọt, trái cấy nấu chín và trái cây khô có thể dùng chút ít. Thức uống gồm có trà già bancha, gạo lứt rang nâu nấu lấy nước, và thỉnh thoảng trà Mù .

Về vận động thể chất, ca hát, thể dục nhẹ, tập thở sẽ tốt cho tim mạch, phổi cho bệnh loại này. Không khí nóng, vùng biển, vùng sa mạc có không khí trong lành sẽ là liều thuốc quý cho bệnh nhân hơn là những vùng núi, vùng lạnh hay vùng có độ cao.


 Tim loạn nhịp (phối hợp cả hai tình trạng quá âm và quá dương) :

Trong bệnh nhóm thứ ba, tim có tiếng rì rào, loạn nhịp tim hoặc phối hợp bất bình thường giữa bên trái và bên phải của tim. Có thể kèm theo luôn bệnh áp huyết cao và đau khớp. Bệnh nhân loại này thường có làn da dầu hoặc da khô, luôn bị tiêu chảy hoặc táo bón, tiểu đường, bệnh bạch huyết, bệnh vàng da, bệnh về phổi, lá lách, và có thể kèm cả bệnh ung thư thận.

Nói chung, những người trong nhóm bệnh này có dáng vẻ trung bình về cả kích thước chiều cao, cấu trúc xương và về vẻ bên ngoài. Họ thường có vết nứt trên chóp mũi, làn môi sưng phồng, nhất là môi dưới chứng tỏ ruột non bị rối loạn. Làn da thường màu vàng và có khi nâu, tinh thần luôn dễ bị kích động, nói chuyện huyên thuyên, không kiên nhẫn, hay bị chóng mặt và giọng cười rộ. Giọng nói của họ liến thoắng hoặc bị nói lắp. Suy nghĩ lanh lợi nhưng không tập trung, hay gõ các ngón tay và rung đùi hoặc chớp mắt quá mức. Ví dụ như trường hợp của Anwar Sadat và Peter Sellers. Chứng tim loạn nhịp là kết quả của việc tiêu thụ quá nhiều cả hai loại thức ăn quá âm và quá dương. Gồm như thịt, đường, trứng và mật, gà giò, khoai tây nghiền và nước thịt, khoai tây lát, mứt và rượu vang cùng các loại vitamin và chất khoáng.

Để trở lại sức khỏe bình thường, thực phẩm được sử dụng trong nhiều tháng đầu phải gồm từ 50 đến 60% ngũ cốc lứt, đặc biệt là gạo lứt, đại mạch, kê, yến mạch và bắp ngô; 5 đến 10% miso xúp nêm vừa và nước xốt nêm tamari (nước tương đậu nành cổ truyền) ; 25 đến 30 % rau củ đúng mùa, gồm những loại rau có củ tròn như bí đông, bắp cải, hành cà rốt và củ cải daikon, từ 5 đến 10 % đậu, chế phẩm từ đậu và rong biển. Các thức ăn phụ như cá có thịt màu trắng, salad, các thức tráng miệng có chất ngọt tự nhiên phải dùng thật hạn chế cho đến khi bệnh đã được cải thiện. Thức uống chính gồm các thảo dược không pha mùi nhân tạo, các loại trà thiên nhiên như trà cọng bancha, trà gạo rang, cà phê ngũ cốc.

Để tinh thần và thể chất được cân bằng, các tập luyện nhẹ về thể chất, tập thiền rất tốt cho tình trạng bệnh, làm dịu đi nhịp đập tim cũng như việc phối hợp giữa hai bên buồng tim. Tất cả các kích thích thái quá từ tinh thần đến thể chất phải được loại trừ cho đến khi bệnh được cải thiện.


 Một trái tim khỏe mạnh (Tình trạng tim quân bình):

Trong xã hội hiện đại, thật đáng báo động cho nhiều cá nhân và gia đình nằm trong tình trạng thoái hóa sinh học và phát triển các bệnh về tim mạch, ung thư hoặc các bệnh rối loạn cấp tính khác. Chính họ gánh trách nhiệm về sức khỏe của họ, những người này đã thay đổi cách sống của họ, trong đó gồm cả cách dùng thực phẩm hàng ngày.

Nói chung, trong nhóm người có được trái tim tốt có thể chia làm thành hai nhóm nhỏ:

1. Những cá nhân luôn có một sức khỏe tổng quát tốt, họ thừa nhận nhanh chóng vấn đề dinh dưỡng, xã hội và sự tốt của ngũ cốc lứt và sự ăn thực dưỡng lấy rau củ làm căn bản.

2. Những cá nhân mang những bệnh nặng, họ cố gắng để thay đổi tập quán và không còn tin tưởng vào thuốc men và những cách ăn không đem lại kết quả.

Khi thay đổi cách ăn uống hàng ngày, thể chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt dù là bệnh nhân thuộc nhóm (1) hoặc (2) và đời sống của họ ngày càng có trật tự và hài hòa hơn. Đối với những bệnh quá nghiêm trọng, các cơn đau đớn được giảm nhẹ và các triệu chứng bệnh cũng dần biến mất ngay trong những tuần lễ đầu tiên áp dụng thức ăn dưỡng sinh chứng tỏ chất lượng máu đã thay đổi. Trong hầu hết các trường hợp, tim được ổn định, áp huyết máu bình thường và mức cholesterol giảm đến mức thấp nhất so với mức nguy hiểm có thể bị đột quỵ. Thêm vào với tình trạng sức khỏe được cải thiện, chức năng tuần hoàn và hô hấp cũng diễn tiến tốt, ăn ngon hơn và bài tiết tốt hơn.

Ngoài ra diện mạo bên ngoài cũng thay đổi, đầu dần dần tròn hơn hoặc hình trái xoang giống như hình hạt gạo hoặc hạt lúa mì. Trọng lượng dư thừa của cơ thể giảm, tư thế vững vàng, cơ thể mềm dẻo và có sức chịu đựng, ít ảnh hưởng với thời tiết nóng hay lạnh. Mắt sáng hơn, mũi thay đổi thành tròn hơn, môi trở lại bình thường không còn sưng phồng hoặc bị lõm như trước. Da sáng hơn, móng tay mọc thẳng và chắc không còn dễ vỡõ và hư hỏng nửa. Tóc cũng thay đổi không còn bị chẻ ngọn, mịn hơn và bóng hơn. Cùng lúc với các cơ quan và dáng vẻ bên ngoài thay đổi, phần tinh thần cũng vậy, sự suy nghĩ của người bệnh sáng suốt hơn, hòa nhã hơn.

Dần dần tầm nhìn của họ bao quát hơn, uyển chuyển hơn và hiểu biết hơn., họ đã khám phá ra được đìều bí mật trong việc liên quan giữa thức ăn, sức khỏe và sinh khí của sự sống qua việc chọn lựa thức ăn và cách nấu nướng.

Mỗi người trong chúng ta đều có thể tự mình ngăn ngừa được các bệnh tật hiểm nghèo, duy trì được sức khỏe và hạnh phúc của mình phù hợp với khí hậu và môi trường xung quanh, đủ năng lực để thực hiện mục đích của đời mình và cống hiến lại sự hiểu biết cho mọi người trên hành tinh này đều là anh chị em của nó cho đến cuối hành trình của cuộc đời.



TƯƠNG TỎI LÂU NĂM
 
Thành phần: Tỏi tươi & tương Tamari lâu năm (ngâm ủ 3 năm trở lên).
Công dụng: Giảm cảm cúm, nhức đầu, chóng mặt, ói mửa, khó tiêu, sơ vữa động mạch, tim, lao, tê bại, lưu thông máu huyết, làm tan máu cục, tăng sức đề kháng, tăng thể lực và an thần, chống ung thư,….
Cách dùng: được dùng như món gia vị, có thể làn nước chấm, uống với trà bancha nóng (lúc cần thiết) hoặc ướp nêm nếm, chiên xào thức ăn,…
Chú ý: Muốn biết Tương tỏi chất lượng, Bạn chỉ cần nhìn tép tỏi đã chuyển qua màu đen là đạt chất lượng tốt.

Bột Sắn Dây

Loại tinh bột này lợi ích cho các bệnh: đường ruột, thương hàn, chậm tiêu, kiết tả, lao nhiệt, mất ngủ, giải độc, say rượu, …
Trẻ em, người lớn đều dùng tốt.
Nếu giải nhiệt cho cơ thể, lúc trời nóng bức – nhất là vận động ngoài trời nóng hoặc các vận động viên thể thao: Quậy bột với nước sôi để nguội, đem lại sức khỏe dẻo dai.
Sắn dây là loại bột trắng như phấn, thu hoạch từ cây sắn dây leo, được trồng ở những vùng đồi núi hoang. Rễ cây sắn dây được thu hoạch vào cuối đông, khi chất lượng bột cao nhất. Sau đó, rễ sắn dây được xát thành bột. Sau khi lọc những mảnh xơ và làm cho cạn khô, lớp bột lắng lại được xắn thành các khoanh không đều nhau, rồi được hoà tan vào nước lạnh. Khi đun sôi, ta có bột sắn dây quánh lại mờ đục, đun tiếp bột trở nên đặc dần và trong mờ.
Bột sắn đun chín có thể chữa đau bụng và loét dạ dày viêm ruột kết, kể cả bệnh kinh niên. Hỗn hợp bột sắn dây – ô mai – gừng – tương chữa các bệnh nhiễm khuẩn và virut, nó giúp phòng chống bệnh rối loạn đường ruột, dạ dày và nhiễm trùng máu. Vì những rối loạn có thể dẫn đến thối ruột hay phá hoại phát sinh bệnh ở các cơ quan vi mô, giá trị của ô mai và hỗn hợp bột sắn – ô mai – gừng – tương không thể thiếu.
Ảnh hưởng của chúng trong việc giúp đỡ cơ thể khắc phục sự rối loạn từng đợt làm cho những loại bệnh này là một phần quan trọng của chương trình tự chăm sóc bảo vệ sức khoẻ.
Bột sắn dây là loại thức uống dân dã và quen thuộc có tác dụng giải nhiệt rất tốt trong mùa hè. Đây còn là vị thuốc chữa cảm nắng, sốt cao rất công hiệu. .
Về thành phần dinh dưỡng, trong 100g bột sắn dây có 14g nước, 0,7g protit, 84,3g gluxit, 0,8g xenlucoza, 18mg canxi, 20mg photpho, 1,5mg sắt… Vì vậy, mùa hè sau những giờ lao động mệt nhọc hoặc đi ngoài nắng về, được uống một cốc nước bột sắn ta thấy mát, dễ chịu, người đỡ mệt hẳn.
Ngoài giá trị dinh dưỡng, sắn dây còn là một vị thuốc giải nhiệt, giải khát tốt vẫn được Đông y dùng chữa các chứng cảm nắng, cảm nóng, sốt cao, khát nước… từ lâu đời.
 Công dụng của nước Mơ muối lâu năm.

Công dụng: Trị đầy bụng, ăn không tiêu, mệt mỏi, chán ăn, giải ngộ độc thức ăn, trị rối loạn dịch vị dạ dày, trung hòa các yếu tố âm trong người, giúp gan loại sạch các hóa chất nhân tạo ra ngoài cơ thể, chống lão hóa cơ thể, tăng sức sống,…
Cách dùng: cho vào nấu với cơm lứt, pha với trà bancha,….và những thức ăn cần thêm gia vị chua.
Nếu bạn thấy khó chịu trong người, hay ngậm một quả mơ muối lâu năm, bạn sẽ thấy ngay tác dụng kỳ diệu của nó.
Nhất là những lúc đi tầu đi xe mà nôn nao có quả mơ muối lâu năm mà ngậm càng thấy sự kỳ diệu của thứ quả kỳ lạ này…
Thành phần: Trái Mơ tự nhiên, muối hầm thiên nhiên không thuốc hóa học.
Công dụng:
Mơ muối lâu năm được mệnh danh là VUA của các thức ăn tạo kiềm trong máu. Đặc trị các bệnh :
+ Về ruột và tiêu hoá, những chứng bệnh đầy bụng, ăn không tiêu.
+ Các chứng bệnh mệt mỏi trong người, chán ăn, chữa ho, trừ đờm, hen xuyễn, khó thở, say xe.
+ Giải ngộ độc thức ăn, trị đau thắt tim, rối loạn vị dạ dày (quá nhiều hoặc quá ít), trung hoà các yếu tố âm trong người. Giúp gan loại sạch hoá chất nhân tạo ra ngoài cơ thể.
+ Chống lão hoá giúp cơ thể trẻ lại và tăng sức sống.
               _ Có thể ngậm trực tiếp trong miệng hoặc chế biến khác như dầm nát pha nước uống hoặc bỏ vào nấu xúp, nấu canh….
Tìm đọc ” Y học thường thức trong gia đình” để biết thêm chi tiết.
_ Phương thức thanh toán tiền: Giao hàng và giao tiền cùng lúc
 

CHANH MUỐI

Thành phần: Chanh ngâm muối 3 năm
Công dụng: Lợi ích cho bệnh viêm họng, ho đàm, bệnh đường ruột, ăn không tiêu.
Cách dùng: Pha làm nước uống hoặc ngậm.
Liều dùng: Mỗi ngày từ 3gr-5gr
Nước chanh tươi có tính acid, nhưng khi vào cơ thể lại tạo phản ứng kiềm cao trong quá trình tiêu hóa. Vì vậy, nước chanh được các đạo sĩ Yoga dùng làm thuốc chữa bệnh rất tốt.
Hơn nữa, chanh lại được ngâm vào trong muối lâu năm (3 năm) nên lại càng hỗ trợ hơn trong việc trị các bệnh viêm họng, bệnh đường ruột,…giúp đào thải các chất độc, chất cặn bã trong cơ thể, sát trùng,…
Trẻ em, người già khi bị viêm họng, ăn không tiêu,….lấy 1/3 trái chanh muối dằm với nước âm nóng (hoặc ngậm) cho uống sẽ chữa được những căn bệnh này.

 HẠT KÊ và Công dụng của hạt Kê 

 Một chén chè kê vào những ngày mùa hè có thể giúp bạn giải nhiệt. Nghiên cứu của các nhà khoa học tại Viện Dinh dưỡng Ấn Độ cho thấy, hạt kê còn có tác dụng lợi tiểu, ngừa sỏi thận, tiêu chảy và tiểu đường.Riêng những ai hay bị đau bao tử, mắc chứng khó tiêu dùng hạt kê trong chế độ ăn hằng ngày cũng sẽ có lợi. Kê còn giúp làm sạch miệng, chống hôi miệng do có công dụng làm chậm quá trình sinh sôi nảy nở của các loại vi khuẩn trong miệng. Hạt kê do giàu axit amin và silic nên giúp các thai phụ ngừa sẩy thai và tình trạng nôn ọe mỗi sáng. Kê còn có tác dụng chống các loại nấm trên cơ thể.
Bộ phận dùng: Hạt và mầm hạt (Cốc nha hay Túc nha) - Semen Setariae et Fructus Setariae Germinatus.
Nơi sống và thu hái: Gốc ở Ấn độ, được trồng nhiều để lấy hạt làm lương thực và làm thức ăn gia súc. Cây mọc nhanh, có thể mọc trên các loại đất cát vùng đồng bằng và cả ở trên các vùng núi.
Thành phần hoá học: Sau khi sấy vỏ, hạt chứa 73% hydrat carbon, 10,8% protein và 2,9% lipid. Các acid amin từ protein được giải phóng do sự lên men thấp hơn ở sữa và Lúa mì.
Tính vị, tác dụng: Kê có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ thận. Ở Ấn độ, được xem như lợi tiểu và thu liễm. Cốc nha có vị ngọt, tính ấm, có tác dụng tiêu thực hoà trung, kiện tỳ khai vị; cốc nha sao lại tiêu thực; còn cốc nha tiêu (sao cháy) có tác dụng làm tiêu tích trệ.
Công dụng: Kê thuộc loại lương thực thường dùng trong nhân dân. Cũng được dùng làm thuốc chữa lậu nhiệt, ho nhiệt, ho khan.
Ở Ấn độ, người ta dùng ngoài trị thấp khớp và là vị thuốc gia dụng làm dịu các cơn đau do sinh đẻ.
Ở Trung quốc, hạt dùng nấu cháo cho người đau dạ dày và bột các hạt đã rang, pha với nước mật dùng cho trẻ em bị bệnh nhọt. Cốc nha dùng chữa ăn uống không tiêu, bụng đầy miệng hôi, tỳ vị hư yếu; kém ăn; cốc nha sao dùng trị kém ăn; cốc nha tiêu dùng trị tích trệ không tiêu. Liều dùng 9-15g.
Đơn thuốc:
1. Chữa âm hư háo khát, mỏi mệt bải hoải sau những buổi thức đêm mất ngủ hay lao động, phòng dục quá độ, trong người hấp nóng, ho, mồ hôi trộm, khó ngủ: dùng hạt Kê nấu chè đường ăn thì mát khoẻ, lại sức.
Lượng vitamin B1, B2 có trong hạt kê cao hơn từ 1 – 1,5 lần so với lúa gạo. Ngoài ra trong hạt kê còn có chứa nhiều nguyên tố vi lượng khác như methionine (một amino axit thiết yếu) vì thế hạt kê có tác dụng duy trì tế bào não, tăng cường trí nhớ và làm giảm quá trình lão hóa.

HẠT SEN và Công dụng 

Không chỉ là món ăn ngon, bổ, hạt sen còn là vị thuốc quý trong đông y. Xin giới thiệu tám bài thuốc đơn giản từ hạt sen.Theo tài liệu cổ thì hạt sen (liên nhục) vị ngọt, sáp (làm cho chặt lại, kín lại), tính bình (không nóng, không lạnh), có tác dụng chữa di tinh, mộng tinh, an thần, ỉa chảy, mất ngủ, chậm tiêu, đầy bụng, ăn kém, chữa khát do sốt cao, mất nước.

Liều dùng 6-12g/ngày dưới dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.
1 – Chữa mất ngủ:
Hằng ngày nấu chè hạt sen ăn vào buổi chiều hoặc tối, có hạt sen tươi càng tốt.
2 – Trẻ em ỉa chảy kéo dài, gầy yếu kém ăn: 

Hạt sen sấy khô, gạo tẻ rang vàng, hai thứ liều lượng bằng nhau (khoảng 150-200g) tán bột, mỗi ngày cho ăn 6-8g vào lúc đói.
3 – Phụ nữ hay bị sảy thai:
Hạt sen 1kg bỏ vỏ ngoài và tim, củ mài (tươi thì 5kg, khô thì 2kg) hai thứ cùng sao vàng, tán mịn, viên với hồ nếp bằng hạt nhãn, mỗi ngày ăn hai lần, mỗi lần 10 viên vào lúc đói.
4 – Trẻ con nóng khát:
Hạt sen 20g, bèo cái 2 cây, gừng tươi 2 lát, đổ một tô nước đun kỹ, cho uống thay nước chè.
5 – Chữa di tinh, đái đục:
Hạt sen 100g (bỏ vỏ, bỏ tim) sao vàng, bạch linh 20g (mua ở hiệu thuốc đông y) hai thứ cùng tán bột, uống với nước lọc vào lúc gần đi ngủ, mỗi lần 1 thìa cà-phê.
6 – Chữa lòi dom:
Hạt sen 50g tẩm rượu để khô, sao vàng, nấu chung với núm đuôi lợn (đoạn ruột sát đuôi, lấy 15- 20cm) thật kỹ, thêm tý muối, ăn vào buổi sáng, cứ vài ba ngày ăn 1 lần, sau 5 lần sẽ kiến hiệu.
7 – Chữa thiếu máu, ít ngủ, kém ăn:
Hạt sen hầm với thịt ba chỉ, ăn hằng tuần liền.
8 – Bồi dưỡng cho phụ nữ mới sinh hoặc mới điều hòa kinh nguyệt:
Chọn gà nhỏ, cỡ 400-500g/con, mổ bỏ ruột, cho hạt sen và ý dĩ (bo bo), gạo nếp, mỗi thứ một nhúm (vo sạch) vào bụng gà, khâu lại, nấu thật nhừ cho ăn. Cứ 2-3 ngày lại ăn một bữa như thế.

 ĐẬU ĐỎ- Món ăn bổ dưỡng

Thuốc giải độc
Vì trong đậu đỏ rất giàu vitamin B và một lượng lớn thành phần tinh chất kiềm thạch nên đậu đỏ còn có khả năng giải độc cao.
Vỏ đậu đỏ giúp cho nhu động ruột hoạt động tốt nhờ đó loại bỏ các chất cặn bã bám ở thành ruột. Đồng thời các tinh chất kiềm thạch kích thích nhuận tràng bài trừ chất độc.
Xưa nay, đậu đỏ được coi là “cao thủ giải độc”. Nếu bị ngộ độc, bạn hãy cho người bệnh uống ngay một cốc nước đậu đỏ đun với một ít muối, khả năng lợi tiểu sẽ đẩy hết chất độc ra khỏi cơ thể người bệnh. Cũng chính nhờ tác dụng này mà các bác sĩ thường khuyên bệnh nhân bị tê phù, bệnh tim, phù thận…. nên sử dụng đậu đỏ.
Chữa suy nhược cơ thể
Mỗi khi cơ thể mệt mỏi, uống ngay một ly nước đậu đỏ bạn sẽ thấy sảng khoái vô cùng.
Còn nếu bạn cảm thấy cơ thể và trí óc nặng nề, bạn nên ăn một bát canh đậu đỏ mặn để tiêu trừ cảm giác này. Muốn ăn ngọt, bạn có thể cho thêm ít mật ong, nhưng thực sự thì đậu đỏ có vị mặn sẽ hiệu quả hơn nhiều.
Những người bị bệnh khó đại tiểu tiện hay thận yếu cũng nên ăn món ăn này vì món canh đậu đỏ lợi tiểu vô cùng!